Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 tác
phẩm, phần lớn là tình ca. Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến trong
thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và do đó đã chịu sự cấm đoán, hạn chế của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa, và ngay cả của chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam sau này. Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng
thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa
sĩ dù không chuyên.
Tiểu sử
Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao-hiện nay
là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng
Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế . Ông lớn lên tại
Huế. Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế,
sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lyceé J.J Rousseau Sài Gòn và tốt
nghiệp tú tài tại đây.
Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi..
Nhưng tác phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi, được xuất bản An Phú in năm 1959. Từ
đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Trong những năm sau đó, nhạc của
ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Vì lời
lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam
đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi Chiến tranh Việt
Nam là "nội chiến" trong bài Gia tài của mẹ, vì quan điểm của họ cho
rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Tuy nhiên,
nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay.
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng
Nhật Bản năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng
Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền
thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc
hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968.
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di
tản sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cải tạo. Nhưng cũng có những
nguồn tin theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi kinh tế mới vài năm
chứ không hề có cải tạo hay ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên. . Một thời gian
dài sau 1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm
ngầm tẩy chay ở hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động,
ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ thập
niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, và có viết một số bài có nội
dung ca ngợi chế độ mới như Thành phố Mùa Xuân, Em ở nông trường em ra biên giới,
Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại
tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971
ông thủ vai chính trong phim Đất khổ . Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được
chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt
Nam với lý do “có tính phản chiến” . Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu
tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim
được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Ông mất tại Thành
phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày
8 tháng 3 năm Tân Tỵ). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng
niệm
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức
kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận con.
Nhạc tình
Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh
Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết
nhạc tình của họ Trịnh tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời
đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản
tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên
tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm
mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình
xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ... Ngoài ra
còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người
tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...
Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường
được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời
được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm
sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam,
nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay
nhất thế kỷ".
Nhạc phản chiến
Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại
nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường
gọi là nhạc phản chiến, sau này tài tử hơn và để tránh nhầm lẫn với những ca
khúc phản chiến của tác giả khác, người ta gọi là Ca khúc da vàng.
Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc
này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công
Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh
lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho
ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc
phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng.
Nhạc phản chiến của họ Trịnh phần lớn viết bằng điệu
Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động
nhưng không hề yếu đuối, bỉ mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem
đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt
tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra
thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại
Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của
Pháp
Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò
không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này
mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh
Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ
vào dòng nhạc này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát
của ông vẫn còn bị cấm trình diễn tại Việt Nam, dù rất phổ biến (và được Khánh
Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài
Chính chúng ta phải nói hòa bình, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta
quyết phải sống)
Nhạc khác
Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công
Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi, viết
cho trẻ em: Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, và cả những bài nhạc đỏ: Huyền thoại
mẹ, Em ở nông trường - em ra biên giới, Nối vòng tay lớn, Ánh sáng Mạc Tư Khoa,
Chưa mất niềm tin, Huế - Sài Gòn - Hà Nội... Trong đó nổi tiếng hơn cả là các
bài "Em là hoa hồng nhỏ" và "Nối vòng tay lớn" - có thể nói
rằng không một thanh thiếu niên Việt Nam nào lại không biết đến hai bài hát
này.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét